Triển khai chuyển đổi kháng sinh dự phòng từ đường tiêm sang đường uống trên bệnh nhânsau mổ lấy thai tại Bệnh viện đa khoa Đức Giang
Cơ quan, tổ chức của tác giả
Từ khóa:
chuyển đổi tiêm - uống, kháng sinh dự phòng, mổ lấy thaiTóm tắt
Dẫn nhập: Chuyển đổi đường dùng từ đường tiêm sang đường uống (IV-PO) đem lại nhiềulợi ích như giảm tỷ lệ tái sử dụng kháng sinh đường tiêm, tăng sự thoải mái cho bệnh nhân. Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu trên thế giới hiện nay đề cập đến chuyển đổi đường dùng kháng sinh dựphòng (KSDP).
Mục tiêu nghiên cứu: nghiên cứu này được triển khai nhằm phân tích hiệu quả khi chuyển đổi đường dùng KSDP từ đường tiêm tĩnh mạch sang đường uống trên đối tượng sản phụ sau mổ lấy thai MLT.
Phương pháp:Nghiên cứu tiến cứu, có can thiệp thực hiện trên một nhóm, so sánh với nhóm đối chứng hồi cứu bằng phương pháp ghép cặp điểm khuynh hướng. Nhóm IV-PO bao gồm các bệnh nhân bệnh nhân có lịch mổ từ ngày 6/4/2021 đến ngày 30/9/2021, được sử dụng 1,5gcefuroxim (tiêm tĩnh mạch chậm) trước thời điểm rạch da trong vòng 60 phút; sau thời điểmđóng vết mổ, uống 2 liều cefuroxim 500 mg cách nhau mỗi 12 giờ. Nhóm đối chứng bao gồmcác bệnh nhân có lịch mổ từ ngày 1/1/2020 đến ngày 31/12/2020 được tiếp cận qua hồ sơ bệnhán, được sử dụng KSDP thường quy.
Kết quả: 304 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, bao gồm 152 bệnh nhân ở nhóm IV-POvà 152 bệnh nhân ở nhóm chứng. Không có sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ giữa hai nhóm (không có trường hợp nào ở tất cả các nhóm). Chi phí liên quan tới kháng sinh cho một ca phẫu thuật của nhóm IV-PO thấp hơn 2 lần so với nhóm chứng (p<0,001).
Kết luận: Việc chuyển đổi KSDP IV-PO trong mổ lấy thai có thể làm giảm đáng kể chi phí khángsinh cho mỗi ca phẫu thuật mà không làm tăng nhiễm khuẩn vết mổ so với KSDP thông thường. Do đó, việc chuyển đổi IV-PO trong KSDP có thể áp dụng trong thực hành lâm sàng.
Tài liệu tham khảo
Hà Nguyễn Y Khuê (2019), "Đánh giá hiệu quả của việc chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêmsang đường uống tại Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh", Y học TP. Hồ Chí Minh, 23(2), tr. 170-177.
Huỳnh Thị Thu Thủy (2011), Đánh giá hiệu quả chuyển đổi kháng sinh từ đường tiêm tĩnh mạchsang đường uống trên bệnh nhân sau mổ lấy thai tại Bệnh viện Từ Dũ, Tp. Hồ Chí Minh, báo cáoĐề tài khoa học, Bệnh viện Từ Dũ.
Alrammaal Hanadi H, Batchelor Hannah K, et al. (2019), "E³cacy of perioperative cefuroxime as a prophylactic antibiotic in women requiring caesarean section: a systematic review", EuropeanJournal of Obstetrics & Gynecology and Reproductive Biology, 242, pp. 71-78.
Bratzler Dale W, Dellinger E Patchen, et al. (2013), "Clinical practice guidelines for antimicrobial prophylaxis in surgery", Am J Health Syst Pharm, 70(3):195-283.
Committee on Practice Bulletins-Obstetrics (2018), "ACOG Practice Bulletin No. 199: Use of Prophylactic Antibiotics in Labor and Delivery", Obstet Gynecol, 132(3), pp. e103-e119.
Centers for Disease Control and Prevention (2018), National Healthcare Safety Network (NHSN) patient safety component manual.
Cyriac Jissa Maria, James Emmanuel (2014), "Switch over from intravenous to oral therapy: a concise overview", Journal of Pharmacology and Pharmacotherapeutics, 5(2), pp. 83-87.
National Institute for Health and Excellence Clinical (2008), Surgical site infection: prevention andtreatment of surgical site infection.
Velioglu Arzu, Asicioglu Ebru, et al. (2015), "Prevention of peritonitis in newly-placed peritoneal dialysis catheters: e³cacy of oral prophylaxis with cefuroxime axetil-a preliminary study", The Italian Journal of Urology and Nephrology, 68(1), pp. 27-31.
World Health Organization (2015), WHO recommendations for prevention and treatment of maternal peripartum infections.
World Health Organization (2021), WHO recommendation on prophylactic antibiotics for womenundergoing caesarean section.
Zurbuchen Urte, Ritz Joerg-P, et al. (2008), "Oral vs intravenous antibiotic prophylaxis in elective laparoscopic cholecystectomy—an exploratory trial", Langenbeck's Archives of Surgery, 393(4), pp. 479-485.