Xây dựng phương pháp định lượng andrographolid trong Xuyên tâm liên bằng sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC)

Nguyễn Mai Hương, Nguyễn Thu Hiền, Ngô Minh Thúy, Lê Đình Chi, Tống Thị Thanh Vượng
Cơ quan, tổ chức của tác giả

Các tác giả

  • Nguyễn Mai Hương Trường Đại học Dược Hà Nội
  • Nguyễn Thu Hiền Trường Đại học Dược Hà Nội
  • Ngô Minh Thúy Trường Đại học Dược Hà Nội
  • Lê Đình Chi Trường Đại học Dược Hà Nội
  • Tống Thị Thanh Vượng Trường đại Học Dược Hà Nội

Từ khóa:

andrographolid, định lượng, HPTLC, Xuyên tâm liên

Tóm tắt

Andrographolid (AP) là một diterpen lacton có vai trò quan trọng trong tác dụng sinh học của Xuyên tâm liên (Andrographis paniculata (Burm.f) Nees), kiểm soát hàm lượng AP cung cấp thông tin quan trọng về chất lượng của dược liệu này. Trong nghiên cứu này, một phương pháp HPTLC được xây dựng để định lượng AP trong Xuyên tâm liên. Quá trình tách sắc ký được thực hiện trên bản mỏng Silica gel 60 F 254 sử dụng cloroform - methanol (7: 1, tt/tt) làm pha động. Sau khi bay hơi dung môi, sắc ký đồ được quét tại bước sóng 223 nm để ghi đáp ứng pic của AP. Phương pháp có khoảng tuyến tính từ 199,2 đến 996,0 ng AP trên vết chấm. Phương pháp được thẩm định theo hướng dẫn của AOAC International về độ đúng, độ lặp lại, khoảng tuyến tính, kết quả thẩm định chứng tỏ phương pháp tin cậy với ứng dụng dự kiến. Phương pháp đã được áp dụng định lượng AP trong một số mẫu Xuyên tâm liên mua trên thị trường, với hàm lượng AP thu được từ 0,5 % - 3,0% (kl/kl). Phương pháp HPTLC phát triển trong nghiên cứu cung cấp công cụ phân tích tin cậy có
thể sử dụng trong kiểm nghiệm thường quy Xuyên tâm liên, đồng thời có thể kết hợp việc định lượng AP với định tính Xuyên tâm liên bằng TLC, giúp tiết kiệm thời gian và vật tư.

Tải xuống

Đã Xuất bản

03-10-2025

Cách trích dẫn

Nguyễn Mai Hương, Nguyễn Thu Hiền, Ngô Minh Thúy, Lê Đình Chi, & Tống Thị Thanh Vượng. (2023). Xây dựng phương pháp định lượng andrographolid trong Xuyên tâm liên bằng sắc ký lớp mỏng hiệu năng cao (HPTLC). Tạp Chí Nghiên cứu Dược Và Thông Tin Thuốc, 14(1), 30–39. Truy vấn từ https://jprdi.vn/JP/article/view/82